BỘ LỌC TÌM KIẾM Click xem bộ lọc
Theo danh mục

BỆNH DO NGOẠI KÝ SINH TRÙNG Ở GIA CẦM: CÁCH NHẬN BIẾT VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HIỆU QUẢ

Ngày đăng: 06/11/2025

Bệnh do ngoại ký sinh trùng thường xuất hiện trên gia cầm đẻ nuôi nền hoặc nuôi sàn, đặc biệt ở những đàn nuôi nhốt lâu ngày. Mặc dù bệnh không gây thiệt hại lớn nhưng lại làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi, đồng thời khiến gia cầm suy giảm miễn dịch, dễ mắc thêm các bệnh khác.

Trong đó, gia cầm đẻ thường bị ảnh hưởng nặng hơn so với gia cầm nuôi thịt do thời gian nuôi dài và mức độ tiếp xúc với ký sinh trùng cao hơn.
Các tác nhân chính gây bệnh được chia thành bốn nhóm ký sinh trùng ngoài da, bao gồm: ve, rận, rệp và bọ chét.

Cùng Fivevet tìm hiểu chi tiết về bốn nhóm ký sinh trùng này và giải pháp hỗ trợ hiệu quả giúp bà con phòng và điều trị bệnh do ngoại ký sinh trùng trên gia cầm, bảo vệ sức khỏe đàn vật nuôi và duy trì năng suất ổn định.

Bệnh do ngoại ký sinh trùng trên gia cầm
 
I.  Căn bệnh do ngoại ký sinh trùng
1.1. Bệnh do ve: làm cho gia cầm chậm lớn, đẻ giảm và lông xơ xác.
a. Ve đỏ gia cầm (Dermanyssus gallinae) còn gọi là ve đỏ, ve đậu hoặc mạt gà, là loài ve hút máu thường gặp trên gia cầm và các loài chim. Mặc dù ve đỏ có thể cắn người, nhưng không thể sống sót hoặc ký sinh lâu dài trên cơ thể người. 

Đặc điểm và tác hại của ve đỏ gia cầm
- Ve trưởng thành hoạt động về đêm, thường hút máu ở vùng ngực và chân của gà mái.
- Khi số lượng lớn, chúng có thể gây thiếu máu nghiêm trọng, làm chết chim non, giảm sản lượng trứng và khiến lông gia cầm khô xơ, kém bóng mượt.
- Ban ngày, ve đỏ ẩn náu trong các tổ, ổ đẻ, khe gỗ, kẽ tường hoặc những nơi khuất trong chuồng, khiến việc phát hiện và tiêu diệt rất khó khăn.

Vòng đời của ve đỏ gia cầm
- Ve cái bắt đầu đẻ trứng chỉ sau 24 giờ kể từ lần hút máu đầu tiên.
- Sau khi no máu, ve có kích thước khoảng 1 mm.
- Trứng được đẻ tại các vị trí ẩn náu, nở thành ấu trùng sáu chân không ăn.
- Ấu trùng phát triển qua các giai đoạn: ve non → ve trưởng thành đực và cái.
- Chu kỳ phát triển hoàn chỉnh chỉ trong 1-3 tuần, tùy theo điều kiện môi trường.
- Ve trưởng thành có thể sống sót đến 34 tuần trong chuồng trống, tồn tại dai dẳng và dễ tái phát bệnh.

b. Ve gia cầm phương Bắc (Ornithonyssus sylviarum), hay còn gọi là ve gà phương Bắc, là loài ký sinh trùng quan trọng nhất gây hại cho gà đẻ và gà giống ở Hoa Kỳ. Đây cũng là tác nhân gây hại nghiêm trọng cho đàn gà tại nhiều quốc gia vùng ôn đới trên thế giới.

c. Ve gia cầm nhiệt đới (Ornithonyssus bursa) là loài ký sinh trùng ngoài da phân bố rộng rãi ở các vùng khí hậu ấm áp trên thế giới. Loài ve này đã được ghi nhận tại Hawaii, Texas, Florida, Illinois, Indiana, Maryland và New York.

Ve gia cầm nhiệt đới có đặc điểm sinh học và tập tính tương tự ve gia cầm phương Bắc, nhưng đẻ nhiều trứng hơn trong tổ.

Vật chủ của ve bao gồm gà, gà tây, vịt, bồ câu, chim sẻ, sáo đá và cả con người.

Đặc biệt, vi rút gây viêm não tủy ngựa miền Tây (Western equine encephalomyelitis virus) đã từng được phát hiện trong loài ve này, tuy nhiên chưa có bằng chứng cho thấy ve truyền vi rút .

Ngoài ra, ve gia cầm nhiệt đới còn là ký chủ trung gian mang mầm bệnh xoắn khuẩn Borrelia anserina – tác nhân gây bệnh Spirochaetosis (bệnh xoắn khuẩn) trên gà.

- Triệu chứng: gia cầm xơ xác, đẻ giảm, chậm lớn. Da và mào nhợt nhạt do thiếu máu.

1.2. Bệnh do rận (lice): làm cho gia cầm sút cân, sinh trưởng kém và giảm sản lượng trứng. 

Vòng đời của rận
- Cả rận đực và cái đều hoàn thành toàn bộ vòng đời trên cơ thể ký chủ.
- Rận cái đẻ trứng thành chùm, bám dính vào sàn, lồng nuôi hoặc chân gia cầm.
- Trứng nở sau 5-8 ngày, và cứ 3-5 ngày rận lột xác một lần để phát triển thành trưởng thành.
- Mỗi con rận có thể sống ký sinh trên vật chủ trong vài tháng, nhưng không thể tồn tại quá 1 tuần ngoài cơ thể ký chủ.

Triệu chứng: 
- Rận lây lan nhanh trong đàn thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa các cá thể.
- Chúng thường ký sinh ở vùng ngực, bụng, đôi khi tấn công vào các vùng da mềm quanh lỗ chân lông.
- Gia cầm bị ngứa ngáy, khó chịu, thường dùng mỏ mổ, tỉa lông, dẫn đến trầy xước da, lông xơ xác và giảm đẻ trứng.

Hình ảnh con rận
 
1.3. Bệnh do rệp (Mites): gây cho gia cầm chậm lớn, giảm đẻ, lông xơ xác và thiếu máu khi mắc phải.

Vòng đời của rệp: 
- Rệp cái đẻ trứng tại những nơi trú ẩn trong chuồng nuôi.
- Sau 2-3 ngày, trứng nở thành ấu trùng, sau đó lột xác thành nhộng.
- Nhộng trải qua hai lần lột xác trước khi phát triển thành rệp trưởng thành.
- Rệp trưởng thành có thể sống nhiều tháng mà không cần ăn, giúp chúng tồn tại lâu dài trong môi trường chuồng trại.

Đặc điểm ký sinh
- Một số loài rệp ký sinh thường xuyên trên gà, điển hình là rệp vảy chân. Một số khác không thường xuyên như rệp đỏ.

- Triệu chứng:
+ Rệp đỏ: là loài ký sinh hút máu vào ban đêm và ẩn náu trong chuồng trại ban ngày. Chúng gây cho gia cầm xơ xác, chậm lớn, giảm đẻ và có thể truyền các bệnh truyền nhiễm từ con bệnh sang con khỏe thông qua vết cắn.

+ Rệp vảy chân: là loài rệp rất nhỏ, lây lan qua tiếp xúc trực tiếp và thường ký sinh ở các vùng không có lông như chân, mào và tích. Chúng hoạt động dưới lớp vảy chân, tạo ra bụi phấn xám rơi xuống nền chuồng, rồi lan sang các vảy khác. Khi bệnh kéo dài, vảy da chân dày gấp 2-3 lần bình thường, các vùng da mềm bị viêm, khiến gà xơ xác, thiếu máu và giảm đẻ rõ rệt.

+ Rệp cắn lông: gây hại bằng cách khoét lỗ ở chân lông, khiến lông gà bị gãy hoặc rụng, vùng da quanh đó xuất hiện vảy cứng và sần sùi. Khi nhiễm nặng, gà giảm đẻ, chậm lớn và tăng trọng kém.

+ Rệp túi khí: Rệp này sống ký sinh trong trong đường hô hấp và túi khí của gà. Vòng đời của loại rệp này không rõ nhưng người ta nghi ngờ rằng giai đoạn trung gian của rệp này là từ khí quản, khi gà ho bật ra khỏi miệng và nuốt vào ruột, sau đó bài tiết ra phân. Khi gà nhiễm nặng chậm lớn, thở khó hoặc gây kế phát bệnh viêm đường hô hấp.

+ Rệp dưới da: Loại rệp này thường bám trên da và thỉnh thoảng thấy ở gà nuôi nền đất, gây kích ứng và ảnh hưởng đến sức khỏe của vật nuôi.

Hình ảnh con rệp
 
1.4. Bệnh do bọ chét (Stickfast flea): Gà bị nhiễm bọ chét thường xơ xác, giảm đẻ.

Vòng đời: Bọ chét trưởng thành bám chặt vào ký chủ, đẻ trứng xuống đất. Trứng nở thành ấu trùng, phát triển qua giai đoạn nhộng rồi thành bọ chét trưởng thành. Vòng đời kéo dài khoảng 4 tuần, và bọ chét có thể sống ngoài ký chủ vài tuần mà không cần hút máu.

Triệu chứng: Bọ chét thường bám ở mào, tích và quanh mắt, hút máu khiến gia cầm thiếu máu, ngứa ngáy, gà rỉa lông, trông gầy yếu và giảm năng suất đẻ trứng.

Bọ chét
 

II. Phòng, trị bệnh do ngoại ký sinh trùng trên gia cầm
2.1. Phòng bệnh
a. Vệ sinh - phòng bệnh
- Giữ chuồng trại sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, thường xuyên khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, vệ sinh toàn bộ khu vực xung quanh.
- Chăm sóc đàn gia cầm tốt, cung cấp thức ăn và nước uống đảm bảo chất lượng, thực hiện phòng bệnh định kỳ bằng vắc xin theo đúng lịch của trại.
- Phòng bệnh bằng vắc xin Fivevet:
+ Five-Gumboro, Five-ND.IB AI (H9N2), Five-ND.IB, Five-Fowl Pox, Five-Coryvac, Five-Aviflu H9N2, Five-AI (H5N1, H5N6), Five-THT Poultry, Five-ND.IB.EDS,…

+ Vịt, ngan: Five-VGV, Five-DTV, Five-Colivac RA,…

- Ngăn chặn chim hoang, chuột, côn trùng xâm nhập trại vì đây là nguồn mang mầm bệnh nguy hiểm.
- Sát trùng dụng cụ, thức ăn, phương tiện và người ra vào trại để tránh mang mầm bệnh từ bên ngoài vào.
- Kiểm tra định kỳ đàn gia cầm phát hiện sớm ký sinh trùng; phun phòng bằng các sản phẩm:Five-Tox, Five-Cymethrin, Five-Permethrin.
 

Sản phẩm diệt côn trùng
 
- Ngăn ngừa lây lan giữa các đàn trong cùng trại. Sau mỗi lứa nuôi, dọn phân và chất độn chuồng mang đi ủ kỹ để tiêu diệt mầm bệnh, hạn chế lây nhiễm cho lứa sau.

2.2. Trị bệnh

 Khi phát hiện gia cầm nhiễm ký sinh trùng:
- Dọn vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, tiêu diệt ký sinh trùng trong môi trường.
- Cho gia cầm uống Five-Ivertin.100 Oral kết hợp phun sát trùng toàn bộ chuồng trại (trong và ngoài) bằng một trong các sản phẩm: Five-Tox, Five-Cymethrin, Five-Permethrin.

Sản phẩm trị nội - ngoại ký sinh trùng
 

- Tuân thủ liều lượng và liệu trình theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm để đạt hiệu quả tối ưu.

Câu hỏi thường gặp:
1. Bệnh ký sinh trùng ngoài da ở gia cầm là gì?

Bệnh ký sinh trùng ngoài da ở gia cầm là tình trạng gia cầm bị các loài như ve, rận, rệp, bọ chét… ký sinh trên da, lông, túi khí hoặc đường hô hấp. Chúng hút máu, gây kích ứng da, làm gà xơ xác, giảm đẻ, chậm lớn và dễ nhiễm bệnh kế phát.

2. Nguyên nhân nào khiến gia cầm dễ mắc ký sinh trùng ngoài da?
Nguyên nhân chính là môi trường chuồng trại ẩm ướt, kém vệ sinh, tiếp xúc với chim hoang, chuột, côn trùng, hoặc dụng cụ, phương tiện mang mầm bệnh.

3. Dấu hiệu nhận biết gia cầm bị ký sinh trùng là gì?
Gia cầm gãi ngứa, rỉa lông, giảm ăn, giảm đẻ, xơ xác, mào nhợt nhạt, đôi khi thở khó, kém tăng trọng. Quan sát kỹ có thể thấy rận, rệp, ve hoặc bọ chét bám trên da, mào, tích, hoặc quanh mắt.

4. Cách phòng bệnh ký sinh trùng ngoài da hiệu quả nhất là gì?
- Giữ chuồng trại sạch, khô ráo, thông thoáng.
- Phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh.
- Sát trùng định kỳ bằng Five-Tox, Five-Cymethrin hoặc Five-Permethrin.
- Tiêm phòng vắc xin định kỳ theo lịch: Five-Gumboro, Five-ND.IB, Five-Fowl Pox, Five-Aviflu H9N2, Five-AI (H5N1, H5N6),…
- Ngăn chim hoang, chuột, côn trùng xâm nhập trại.

5. Vì sao cần xử lý chất độn chuồng sau mỗi lứa nuôi?
Chất độn chuồng, phân gà là nơi ký sinh trùng ẩn náu và phát triển. Cần dọn dẹp và ủ kỹ sau mỗi lứa để tiêu diệt mầm bệnh, tránh lây lan cho đàn sau.

Xem thêm:
- Giun sán ký sinh ở gia cầm – Dấu hiệu nhận biết và biện pháp điều trị hiệu quả
Hiện tượng mổ, cắn nhau ở gia cầm – Nguyên nhân và cách khắc phục hiệu quả
Nguyên nhân và cách khắc phục gà bị rối loạn vận động

 

 

Chia sẻ :
Ý KIẾN PHẢN HỒI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN