Bệnh tỵ thư là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên động vật guốc lẻ, đặc biệt là ngựa, lừa và la. Bệnh không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe vật nuôi mà còn có khả năng lây sang người khi tiếp xúc với dịch tiết, mủ hoặc tổn thương của con bệnh.
Việc nhận biết sớm nguyên nhân, đường truyền lây, triệu chứng và bệnh tích của bệnh tỵ thư có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng bệnh, kiểm soát nguồn lây và hạn chế nguy cơ phát tán mầm bệnh trong đàn. Trong phần 1 của bài viết, Phòng Kỹ thuật thực địa Fivevet sẽ cùng người chăn nuôi tìm hiểu tổng quan về bệnh tỵ thư, nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm dịch tễ và các biểu hiện lâm sàng thường gặp.

Bệnh tỵ thư là gì?
1. Bệnh tỵ thư là gì?
Bệnh tỵ thư còn gọi là Malleus hoặc Glanders, là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Burkholderia mallei gây ra. Bệnh chủ yếu gặp ở động vật một móng, đặc biệt là ngựa, lừa, la và một số động vật mẫn cảm khác. Bệnh có thể lây sang người khi tiếp xúc với dịch tiết, mủ hoặc tổn thương của con bệnh. Vì vậy, vật nuôi nghi mắc bệnh cần được cách ly ngay, không tự ý điều trị hoặc mổ khám, đồng thời báo cho cơ quan thú y để được kiểm tra bằng các phương pháp phù hợp như phản ứng Mallein, xét nghiệm huyết thanh học hoặc xét nghiệm vi khuẩn học.
2. Nguyên nhân gây bệnh tỵ thư
Bệnh tỵ thư do vi khuẩn Burkholderia mallei gây ra. Đây là vi khuẩn hình gậy, bắt màu Gram âm, không có lông và có sức đề kháng yếu ngoài môi trường.
Vi khuẩn chỉ có thể tồn tại trong vài ngày trong chất tiết của con bệnh khi bị khô. Tuy nhiên, trong điều kiện ẩm độ cao, mầm bệnh có thể tồn tại được vài tuần. Vi khuẩn nhanh chóng bị tiêu diệt ở nhiệt độ khoảng 60°C và bởi các chất sát trùng thông thường.
Đường truyền lây chủ yếu của bệnh tỵ thư
3. Dịch tễ học của bệnh tỵ thư
Những con vật mắc bệnh nhưng chưa có biểu hiện triệu chứng rõ ràng là nguồn lây nguy hiểm, làm mầm bệnh âm thầm phát tán trong đàn. Đây là yếu tố khiến bệnh có thể lây lan trước khi người chăn nuôi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Mầm bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, chủ yếu thông qua thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh. Vì vậy, hệ thống máng ăn, máng uống chung ở những khu vực nuôi nhiều động vật một móng có thể làm bệnh bùng phát nhanh và lây lan rộng.
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn tồn tại ở niêm mạc vùng hầu, họng. Từ đây, vi khuẩn phát tán khắp cơ thể, chủ yếu đến phổi, niêm mạc mũi và da. Tại các vị trí mầm bệnh cố định, cơ thể bắt đầu hình thành các mụn nhỏ. Sau một thời gian, các mụn này vỡ ra, khô lại, bong ra và để lại sẹo, đặc biệt là ở da.
4. Triệu chứng bệnh tỵ thư
Căn cứ vào vị trí gây bệnh và các biến đổi bệnh lý, bệnh tỵ thư có thể được chia thành nhiều thể khác nhau. Mỗi thể bệnh có biểu hiện riêng, nhưng thường liên quan đến tổn thương ở mũi, phổi, da và hệ thống hạch lâm ba.
Thể cấp tính của bệnh tỵ thư
Thể cấp tính thường gặp ở lừa và ngựa, có thời gian nung bệnh rất ngắn, khoảng 2–4 ngày, bệnh diễn biến nhanh trong khoảng 2–3 ngày.
- Con vật mắc bệnh có thể xuất hiện các biểu hiện như:
- Viêm mũi, chảy dịch màu xanh vàng hoặc dịch có lẫn máu.
- Viêm mũi tiến triển nhanh, hình thành màng giả trong xoang mũi.
- Xuất hiện các cục nhỏ, áp xe, nốt loét trên niêm mạc mũi.
- Hạch lâm ba vùng mũi sưng to hai bên, tạo thành ổ áp xe mủ và có thể vỡ ra ngoài da.
Thể mạn tính của bệnh tỵ thư
Thể mạn tính thường xảy ra ở ngựa và có thể kéo dài trong nhiều năm. Ở nhiều trường hợp, biểu hiện lâm sàng không rõ ràng nên bệnh khó phát hiện nếu chỉ quan sát bên ngoài.
- Con vật mắc bệnh thể mạn tính có thể có các dấu hiệu:
- Sốt cao gián đoạn hoặc sốt không theo quy luật.
- Nhịp thở tăng.
- Khớp chân bị sưng.
- Viêm hạch lâm ba mạn tính.
- Giảm trọng lượng, cơ thể gầy yếu.
Một số trường hợp chỉ được phát hiện khi tiến hành phản ứng Mallein hoặc các phương pháp chẩn đoán miễn dịch.
Thể mũi của bệnh tỵ thư
Thể mũi thường bắt đầu bằng tình trạng viêm mũi. Hai lỗ mũi của con vật có thể chứa nhiều dịch nhầy màu xanh vàng, trong đó có các đám tổ chức hoại tử và rớm máu.
- Khi ho hoặc khịt mũi, con vật mắc bệnh có thể chảy ra từng đám lớn dịch nhầy từ lỗ mũi. Trên niêm mạc mũi xuất hiện các nốt màu vàng xám, sau đó vỡ loét và hình thành các ổ áp xe mủ.
- Các nốt loét có bờ rộng dần, tạo thành ổ loét lớn. Nếu tổn thương hồi phục, vùng loét có thể để lại sẹo trên niêm mạc mũi và vách ngăn hai lỗ mũi. Cánh mũi và môi của con vật cũng có thể bị sưng thũng, xuất hiện nốt loét.
- Ở cả thể cấp tính và mạn tính, hạch lâm ba ở vùng có nốt loét thường bị viêm. - Các nốt loét cũng có thể xuất hiện trên da, dày lên, có màu vàng và chảy dịch.
Thể phổi
- Thể phổi thường phát triển chậm trong khoảng vài tháng. Con vật mắc bệnh có thể giảm tăng trọng, thở khó tăng dần, ho và có tiếng khò khè nếu thanh quản bị viêm.
- Sau đó, các bệnh tích có thể xuất hiện thêm ở vùng quanh mũi và trên da. Do diễn biến chậm, thể phổi cần được theo dõi kỹ để tránh nhầm lẫn với các bệnh hô hấp khác.
Thể da
Thể da còn được gọi là bệnh Farcy. Đặc điểm điển hình là xuất hiện nhiều mụn trên da, có kích thước khoảng 1–3 cm, thường thấy ở chân, ngực và bụng.
- Các mụn này có thể vỡ loét, chảy dịch trên bề mặt da, tạo thành các ổ loét mạn tính và hình thành các cục ở trên da. Các mụn và nốt loét khác cũng có thể xuất hiện quanh vùng hạch lâm ba, tạo ra bệnh tích giống như viêm hạch lâm ba truyền nhiễm.
- Ở quanh vùng có nốt loét, tổ chức dưới da thường bị sưng thũng, lan rộng, đặc biệt rõ ở chân sau.
Triệu chứng bệnh tỵ thư
5. Bệnh tích của bệnh tỵ thư
Bệnh tỵ thư có thể gây tổn thương ở nhiều cơ quan trong cơ thể. Tại phổi, bệnh hình thành các u phổi. Những u này về sau có thể nung mủ và có màng bao bọc.
Bề mặt phổi có thể bị viêm từng đám, kèm dịch nhầy. Ngoài phổi, các cơ quan nội tạng ở bụng, cơ quan sinh dục, xương và hạch lympho cũng có thể xuất hiện các u. Những u này cũng có thể bị viêm và có mủ.
Ở phần tiếp theo, bài viết sẽ trình bày các phương pháp chẩn đoán bệnh tỵ thư, cách phòng bệnh, xử lý con bệnh và những lưu ý quan trọng khi phát hiện vật nuôi nghi mắc bệnh.
Bài viết được biên soạn bởi Phòng Kỹ thuật thực địa - Công ty cổ phần thuốc thú y Trung ương 5 (Fivevet).
Tài liệu tham khảo:
https://khoathuy.vnua.edu.vn/phong-ngua-benh-ty-thu-o-ngua.html
Nguyễn Bá Hiên và CS-Giáo trình Bệnh truyền nhiễm thú y- NXB Học viện nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Bệnh tỵ thư là bệnh gì?
Bệnh tỵ thư là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Burkholderia mallei gây ra. Bệnh chủ yếu gặp ở động vật một móng như ngựa, lừa, la và có khả năng lây sang người khi tiếp xúc với dịch tiết, mủ hoặc tổn thương của con bệnh.
2. Bệnh tỵ thư thường gặp ở loài vật nào?
Bệnh tỵ thư thường gặp ở các loài động vật một móng, đặc biệt là ngựa, lừa và la. Một số động vật mẫn cảm khác cũng có thể mắc bệnh nhưng ít phổ biến hơn.
3. Nguyên nhân gây bệnh tỵ thư là gì?
Nguyên nhân gây bệnh tỵ thư là vi khuẩn Burkholderia mallei. Vi khuẩn này có sức đề kháng yếu ngoài môi trường, dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ khoảng 60°C và các chất sát trùng thông thường.
4. Bệnh tỵ thư lây lan qua đường nào?
Mầm bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, chủ yếu do thức ăn, nước uống nhiễm vi khuẩn. Máng ăn, máng uống dùng chung trong khu vực nuôi nhiều động vật một móng có thể làm tăng nguy cơ lây lan bệnh.
5. Triệu chứng thường gặp của bệnh tỵ thư là gì?
Các triệu chứng thường gặp gồm viêm mũi, chảy dịch màu xanh vàng hoặc có lẫn máu, xuất hiện nốt loét ở niêm mạc mũi, sưng hạch lâm ba, ho, khó thở, sốt thất thường, giảm trọng lượng và gầy yếu.
Xem thêm:
BỆNH TỴ THƯ LÀ GÌ? NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG, CHẨN ĐOÁN VÀ PHÒNG BỆNH – PHẦN 2