BỘ LỌC TÌM KIẾM Click xem bộ lọc
Theo danh mục

BỆNH NẤM PHỔI GIA CẦM: CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA HIỆU QUẢ

Ngày đăng: 27/01/2026

Bệnh nấm phổi (Aspergillosis) là bệnh thường gặp ở gia cầm và các loài chim hoang dã. Bệnh thường không gây chết hàng loạt như một số bệnh truyền nhiễm cấp tính khác, nhưng lại khiến gia cầm gầy yếu, giảm sức sản xuất trứng và thịt, kéo dài thời gian nuôi và buộc phải loại thải, từ đó gây thiệt hại kinh tế đáng kể. Bệnh đặc biệt nặng ở gia cầm non, nhất là giai đoạn 1-4 tuần tuổi, có thể gây chết với tỷ lệ cao. Các yếu tố nguy cơ, mức độ ảnh hưởng và biện pháp kiểm soát bệnh nấm phổi ở gia cầm sẽ được phân tích chi tiết trong bài viết này của Fivevet.
Bệnh nấm phổi gia cầm cách điều trị và phòng ngừa hiệu quả

1. Đặc điểm bệnh nấm phổi gia cầm

Aspergillosis được xem là một trong những bệnh quan trọng ở gia cầm, tác nhân gây bệnh là các loài nấm thuộc giống Aspergillus ký sinh và gây bệnh chủ yếu ở phổi. Ngoài giống Aspergillus, đã ghi nhận một số giống nấm khác có liên quan đến bệnh nấm phổi ở gia cầm gồm Penicillium, Paecilomyces, Cephalosporium, Trichoderma, Scopulariopsis và Mucor. Trong đó giống Aspergillus phổ biến hơn các giống khác.
Cho đến nay đã phát hiện 73 loài nấm thuộc giống Aspergillus, nhưng chủ yếu có hai loài thường gây bệnh nấm phổi gia cầm là Aspergillus fumigatus Aspergillus flavus. Một số loài khác cũng có thể gây bệnh nhưng ít gặp hơn như A. terreus, A. glaucus, A. nidulan, A. niger, A. amstelodami A. nigrescens.

2. Điều kiện truyền lây và yếu tố thuận lợi gây bùng phát

Bệnh được phát hiện ở nhiều loài như gà, gà tây, gà sao, gà lôi, chim cút, bồ câu, vịt, ngan và ngỗng. Gia cầm có thể mắc bệnh ở mọi lứa tuổi, nhưng thường nặng và gây chết tỷ lệ cao ở gia cầm non 1-4 tuần tuổi. Gia cầm trưởng thành thường mắc thể mãn tính kéo dài.
Bệnh cũng gặp ở chim hoang dã như chim sẻ, vẹt, gà gô, gà rừng, chim trĩ, vịt trời, ngỗng trời, thiên nga, đà điểu và chim cánh cụt,... Ở nhóm này bệnh thường ở thể mãn tính.
Bệnh có thể truyền qua trứng, khi con mái bị bệnh có thể truyền bào tử nấm qua trứng, vì vậy con non có thể mắc bệnh rất sớm từ 1-5 ngày tuổi. Bào tử nấm có thể tồn tại vài tháng đến hàng năm trong thức ăn, dụng cụ chăn nuôi, chuồng nuôi và không khí chuồng nuôi ô nhiễm, đặc biệt khi điều kiện nóng ẩm tạo thuận lợi cho nấm phát triển.
Bệnh xảy ra trên toàn thế giới nhưng tập trung nhiều ở vùng nhiệt đới nóng ẩm thuộc châu Phi, châu Á và Nam Mỹ. Bệnh thường xuất hiện vào mùa nóng ẩm, mưa nhiều. Tại Việt Nam, bệnh hay xảy ra từ tháng 5 đến tháng 8 dương lịch hàng năm.

3. Triệu chứng bệnh nấm phổi gia cầm

3.1. Triệu chứng bệnh nấm phổi ở gà

Thời gian ủ bệnh ở gà con 5-7 ngày tuổi thường từ 3-6 ngày, ở gà trưởng thành khoảng 7-15 ngày. Gà bệnh thường có biểu hiện ủ rũ, kém ăn, khó thở. Khi thở phải nghển cổ, há miệng, tiếng kêu khàn. Bệnh thường nặng hơn khi kế phát các bệnh khác như E. coli, Mycoplasma, IB, ILT làm gà thở rất khó, khò khè, ho khạc với tiếng “tắc O”. Gà con có thể chết sau 10-15 ngày với tỷ lệ cao khoảng 50-70%.
Nếu gà bị nấm phổi đơn thuần, các dấu hiệu hô hấp thường nhẹ hơn nhưng kéo dài hơn. Ở gà trưởng thành, khó thở tăng dần, có thể chảy dịch mũi, gầy dần và tiếng kêu khàn. Gà mái đẻ trứng giảm dần, có thể đẻ trứng non và ngừng đẻ khi bệnh kéo dài.
Một số trường hợp gà con có biểu hiện viêm ruột, ỉa chảy phân xanh vàng, thường gặp ở gà con và gà dò. Gà trưởng thành có thể mắc bệnh kéo dài 1-2 tháng hoặc hơn, cuối cùng chết trong tình trạng gầy yếu và suy nhược.

3.2. Triệu chứng bệnh nấm phổi ở thủy cầm

Vịt rất mẫn cảm với Aspergillus fumigatus. Thời gian ủ bệnh từ 3-7 ngày ở vịt con 1-3 tuần tuổi và 10-20 ngày ở vịt trưởng thành. Nhiều trường hợp phát hiện tác nhân gây bệnh nấm phổi vịt là Aspergillus flavus.
Vịt con mắc bệnh thường kém ăn, chậm chạp, ít vận động, chảy nước mũi, khó thở tăng dần. Đôi khi có ỉa phân lỏng phân xanh hoặc vàng. Vịt con có thể chết sau 7-10 ngày với tỷ lệ chết cao 70-80% số bị bệnh. Vịt trưởng thành có biểu hiện chảy dịch mũi, ăn giảm dần, thở khó. Đặc biệt vịt cái có thể tiếng kêu khàn như tiếng vịt đực, đẻ trứng giảm, gầy yếu kéo dài 2-3 tháng rồi chết do kiệt sức hoặc bị loại thải.
Ngan và ngỗng bị bệnh thường có biểu hiện tương tự vịt như kém ăn, chảy dịch mũi, ho, khẹc, khó thở kéo dài. Có thể thấy xoang mặt sưng thũng, tiếng kêu khàn, gầy yếu dần và chết trong tình trạng suy hô hấp.
Triệu chứng bệnh nấm phổi gia cầm

3.3. Triệu chứng bệnh ở gà tây

Gà tây nhiễm Aspergillus fumigatus có thời gian ủ bệnh từ 3-7 ngày đối với gà 7-30 ngày tuổi và 10-20 ngày ở gà trưởng thành. Gà bệnh thường kém ăn, ít hoạt động, sau đó thở khó, chảy dịch mũi và mắt. Một tỷ lệ có thể viêm kết mạc mắt (khoảng 20-28%). Gà con có thể xuất hiện hội chứng thần kinh (khoảng 15-20%) như run rẩy, đi lại xiêu vẹo, ho khẹc vào ban đêm và sáng sớm. Gà mái đẻ trứng giảm hoặc ngừng đẻ, gầy yếu, suy nhược dần và chết do kiệt sức và suy hô hấp. Gà con 1-2 tháng tuổi có thể chết 50-60% số gà bệnh.

3.4. Triệu chứng bệnh ở chim hoang dã

Bệnh có thể gây viêm phổi và viêm túi khí ở vịt trời, thiên nga và một số loài chim khác. Tổn thương hệ hô hấp cũng được ghi nhận ở gà lôi, chim cút Nhật Bản, đà điểu, chim cánh cụt và nhiều loài chim hoang dã do mắc Aspergillus spp.

4. Bệnh tích khi mổ khám

Ở gia cầm non như gà, vịt, ngan và ngỗng, bệnh tích mổ khám thường tương tự nhau. Có thể thấy các khuẩn lạc nấm màu trắng ngà hoặc xanh. Xung quanh khuẩn lạc nấm bị viêm xơ và đôi khi thấy phổi bị viêm dính, sung huyết. Ở bồ câu non, có thể thấy nấm phát triển trên da thành các đám hoại tử nhỏ màu vàng đục.
Ở gia cầm trưởng thành, bệnh tích đặc trưng ở đường hô hấp với các khuẩn lạc nấm có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đỗ xanh hoặc hạt ngô, dạng dẹt, màu trắng vàng, xanh lá cây hoặc xanh đen ở vòm khẩu cái, thanh quản, khí quản và trên bề mặt phổi. Thời gian mắc bệnh càng lâu, các ổ nấm càng sẫm màu. Các hạt nấm thường khô và rất giòn. Xung quanh ổ nấm hình thành tổ chức viêm hoại tử màu xám vàng, xơ hóa và sung huyết.
Ở vịt, bệnh tích tương tự với các ổ hoại tử đường kính khoảng 5-8 mm. Tổn thương có thể màu trắng vàng do Aspergillus flavus hoặc màu vàng xanh, xanh lá cây xám do Aspergillus fumigatus, xuất hiện ở thanh quản, khí quản, trên bề mặt và trong thùy phổi, trong túi khí.
Gà tây bị bệnh có bệnh tích tương tự như gà và có thể gặp các ổ nấm ở giác mạc gây sưng và viêm mắt. Các loài chim hoang dã bị bệnh do Aspergillus spp. cũng có bệnh tích tương tự gà, gà tây và thủy cầm.
Bệnh tích khi mổ khám

5. Chẩn đoán bệnh nấm phổi gia cầm

Chẩn đoán bệnh nấm phổi chủ yếu dựa trên triệu chứng lâm sàng kết hợp với bệnh tích đặc trưng, thường ghi nhận tình trạng viêm đường hô hấp, xuất hiện các ổ nấm ký sinh tại phế quản, túi khí và có thể lan sang một số cơ quan khác.
Để xác định chính xác tác nhân gây bệnh, có thể tiến hành nuôi cấy và phân lập nấm từ mẫu bệnh phẩm. Ngoài ra, phương pháp miễn dịch gắn men ELISA cũng được ứng dụng trong một số trường hợp nhằm phát hiện Aspergillus ở gia cầm.
Nhằm rút ngắn thời gian và nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán, người chăn nuôi có thể lấy mẫu bệnh phẩm gửi về Fivelab để thực hiện xét nghiệm chuyên sâu. Vui lòng liên hệ hotline 0822 120 555 để được tư vấn và hỗ trợ lấy mẫu phát hiện bệnh kịp thời.

6. Phòng bệnh nấm phổi gia cầm

Đây là bệnh thường xuất hiện khi gia cầm tiếp xúc với thức ăn và chất độn chuồng có chứa bào tử nấm mốc. Vì vậy, kiểm soát chất độn chuồng và thức ăn không cho nấm phát triển là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất, đồng thời giúp hạn chế các bệnh bội nhiễm khác.
Khi phát hiện nấm trong chất độn chuồng, nên lùa gia cầm sang nơi khô ráo, thu dọn toàn bộ chất độn chuồng đã nhiễm nấm, phun thuốc sát trùng nơi nhốt gia cầm, thay chất độn chuồng mới rồi mới lùa gia cầm trở lại. Tuyệt đối không cho gia cầm ăn thức ăn đã nhiễm nấm mốc.
Nên thường xuyên trộn các thuốc có tác dụng hấp phụ độc tố nấm mốc vào thức ăn như Five-Antitoxin cho gia cầm theo khuyến cáo sử dụng. Đồng thời bổ sung vitamin, khoáng và các vi sinh vật có lợi để tăng sức đề kháng cho đàn như Five-Aminovit super, Five-Mix nhân sâm, Five-Caphos, Five-Enzym, Five-Men tiêu hóa, Five-Prozym 5way.
Trong thực tế chăn nuôi, một số trại có thể định kỳ trộn kháng sinh để điều trị kế phát. Khi áp dụng, cần tránh các kháng sinh có nguồn gốc tự nhiên chiết xuất từ nấm và nên có hướng dẫn chuyên môn để hạn chế rủi ro.
Giải pháp phòng nấm phổi gia cầm

7. Trị bệnh nấm phổi gia cầm

Khi phát hiện bệnh, cần loại bỏ các con có triệu chứng rõ và điều trị dự phòng cho những con chưa có triệu chứng. Đồng thời phải xử lý nguồn lây truyền là thức ăn hoặc chất độn chuồng nhiễm nấm. Cần cắt bỏ thức ăn nghi ngờ nhiễm nấm, thay bằng thức ăn mới và thay chất độn chuồng sạch, khô.
- Tiêu độc sát trùng chuồng trại có thể sử dụng các sản phẩm sát trùng như Five-Iodine, Five-B.K.G, Five-BGF, Five-Perkon 3S và phun xịt theo đúng hướng dẫn sử dụng.
- Có thể dùng thuốc kháng nấm như Five-NP.10, Five-Funazole, cho gia cầm với liều điều trị theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm và dùng liên tục 03-05 ngày.
- Cần bổ sung thêm vitamin A trong khẩu phần, có thể sử dụng các sản phẩm như Five-ADE.Bcomlex Oral, Five-Canxi.ADE, Five-Masol Forte, Five-Vit Lyte.KC, Five-Mutivit, Five-ADE Plus, Five-Mix nhân sâm.
- Để tăng cường tiêu hóa, tăng sức đề kháng và giải độc cho đàn, có thể dùng các chế phẩm như Five-Bogama, Five-Phosric, Five-Orgamin, Five-Enzym, Five-Lyte Oral, Five-Prozym 5way, Beta-Glucan.C.
Trị bệnh nấm phổi gia cầm hiệu quả
- Song song với thuốc, cần chăm sóc đàn tốt hơn bằng cách giảm mật độ nuôi, tăng thông thoáng chuồng nuôi, hạn chế ẩm mốc và bụi để gia cầm nhanh chóng hồi phục.
Bài viết được biên soạn bởi Phòng Kỹ thuật thực địa - Công ty cổ phần thuốc thú y Trung ương 5 (Fivevet).
Tài liệu tham khảo:
Sách: Bệnh mới ở gia cầm và kỹ thuật phòng trị, PGS.TS Phạm Sỹ Lăng, TS. Tô Long Thành, TS. Cù Hữu Phú, TS. Nguyễn Hoài Nam. NXB Nông nghiệp (2005).
Báo chí chuyên ngành: Bệnh nấm phổi trên gia cầm và cách phòng trị – Tạp chí Nhà Chăn Nuôi (https://nhachannuoi.vn/benh-nam-phoi-tren-gia-cam-va-cach-phong-tri/)
Câu hỏi thường gặp:
1. Bệnh nấm phổi gia cầm là gì?
Là bệnh do nấm Aspergillus spp. gây ra, chủ yếu ký sinh ở phổi và túi khí, làm gia cầm khó thở, gầy yếu và giảm năng suất.
2. Gia cầm nào dễ mắc bệnh nấm phổi nhất?
Gia cầm non từ 1-4 tuần tuổi (gà, vịt, gà tây,…) có nguy cơ cao và tỷ lệ chết lớn.
3. Dấu hiệu sớm nhất của bệnh nấm phổi trên gà là gì?
Gà kém ăn, ủ rũ, thở khó, nghển cổ, há miệng khi thở.
4. Khi mổ khám, bệnh tích đặc trưng của bệnh nấm phổi là gì?
Xuất hiện ổ nấm trắng, vàng hoặc xanh ở phổi, túi khí, khí quản; hạt nấm khô, giòn.
5. Khi nghi ngờ nấm phổi, nên ưu tiên dùng sản phẩm nào trước?
Khi đàn xuất hiện dấu hiệu khó thở kéo dài, không đáp ứng kháng sinh, cần ưu tiên dùng thuốc kháng nấm đặc hiệu như: Five-NP.10, Five-Funazole,... dùng sớm giúp khống chế sự phát triển của nấm, hạn chế tổn thương phổi và túi khí.
 
 
 
Chia sẻ :
Ý KIẾN PHẢN HỒI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN