BỘ LỌC TÌM KIẾM Click xem bộ lọc
Theo danh mục

ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG GIẢM ĐẺ TRÊN GÀ: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT ĐẺ CHO ĐÀN GÀ (Egg drop syndrome- EDS)

Ngày đăng: 11/03/2025

Hội chứng giảm đẻ (EDS’76) do một loại vi rút thuộc nhóm Adenovirus subgroup III gây bệnh cho gà. Vi rút này không có mối liên hệ nào về mặt huyết thanh học với các vi rút thuộc subgroup I và II. Đặc trưng của bệnh là gây hiện tượng gà đẻ trứng không có vỏ hoặc vỏ mỏng hơn so với gà bình thường, trứng dị dạng, vỏ trứng nhạt màu. Hãy cùng Fivevet tìm hiểu về căn bệnh này để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh cho đàn vật nuôi.

1. Tìm hiểu về hội chứng giảm đẻ trên gà
*Phân loại
Vi rút EDS (EDSV) được xếp vào họ Adenoviridae dựa vào đặc điểm hình thái, tính chất nuôi cấy cũng như các đặc điểm sinh học. Sử dụng phản ứng trung hòa vi rút hoặc phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu, vi rút EDS không có mối liên hệ nào với giống adviadenovirus (gồm 11 prototype gây bệnh cho thủy cầm và 2 prototype gây bệnh cho gà tây).
Cho đến nay mới có duy nhất một serotype EDS được phát hiện. Tuy nhiên các chủng phân lập được có thể chia ra thành 3 genotype, nhóm 1 gồm các chủng đã gây bệnh cho gà ở châu Âu trong vòng hơn 11 năm qua, nhóm 2 gồm các chủng phân lập từ vịt ở Anh và nhóm 3 gồm các chủng phân lập được từ gà ở Úc.

*Sức đề kháng
EDS vi rút tương đối bền với chloroform, chịu được nhiệt độ PH từ 3-10. Với nhiệt độ vi rút bất hoạt sau 30 phút ở 60 độ C, 3 giờ ở 56 độ C. Tính gây bệnh của vi rút sẽ mất đi sau khi xử lý với Focmaldehyde 0,5% và Glutaraldehyde 0,5%.

2. Dịch tễ của bệnh giảm đẻ ở gà
*Loài vật mắc
Các ổ dịch xảy ra được ghi nhận trên đàn gà đẻ nhưng vật chủ tự nhiên của vi rút này có thể là vịt và ngỗng. Bằng phản ứng HI, người ta phát hiện được kháng thể đặc hiệu kháng EDS vi rút trong huyết thanh của vịt và ngỗng nuôi, ngoài ra còn thấy ở vịt cổ khoang, vịt trời, ngỗng Canada, ngan, diệc, cú, thiên nga,…
Có thể phân lập vi rút này từ vịt khỏe mạnh hoặc vịt bệnh nhưng không thể sử dụng chủng này để gây bệnh thực nghiệm. Có thể phân lập được vi rút từ ngỗng, nhưng khi gây bệnh thực nghiệm cho ngỗng không gây giảm đẻ và triệu chứng lâm sàng. Chim cút được coi là loài vật tương đối mẫn cảm với vi rút EDS. Chim trĩ, gà tây không mắc bệnh tự nhiên nhưng có thể gây bệnh thực nghiệm. Gà Nhật cũng có thể mắc bệnh tự nhiên hoặc gây bệnh thực nghiệm, vỏ trứng đẻ ra thường mềm.
Các giống khác nhau mẫn cảm với bệnh khác nhau, thường giống gà đẻ trứng nâu mẫn cảm hơn hơn gà đẻ trứng trắng. Gà có thể mắc ở mọi lứa tuổi. Bệnh thường xảy ra xung quanh thời kỳ gà có tỷ lệ đẻ cao nhất do sự tái kích hoạt của vi rút đang ở giai đoạn tiềm ẩn. Mặc dù có độc lực giống với chủng EDS phân lập từ gà nhưng các chủng vi rút phân lập từ vịt tại Mỹ không có khả năng ảnh hưởng đến sản lượng cũng như chất lượng trứng gà.

*Phương thức truyền lây
Vi rút có thể truyền dọc qua trứng. Tuy số lượng trứng bị ảnh hưởng không nhiều nhưng đây là con đường truyền lây nguy hiểm. Trong nhiều trường hợp, gà con bị nhiễm vi rút từ trứng không bài thải vi rút cũng như không sản sinh kháng thể HI, chỉ đến khi tỷ lệ đẻ trong đàn đạt trên 50% là giai đoạn vi rút bị tái kích hoạt, con vật bài thải vi rút làm bệnh lây lan trong đàn.
Ngoài ra, bệnh còn có thể lây qua khay trứng, phương tiện vận chuyển, thức ăn, nước uống, dụng cụ thú y, chất độn chuồng.

*Cơ chế sinh bệnh
Bằng thực nghiệm, khi cho gà uống vi rút EDS, vi rút gây nhiễm trùng huyết, một số nhân lên trên niêm mạc mũi. Sau 3-4 ngày vi rút nhân lên khắp các lympho trong cơ thể đặc biệt là lách và tuyến ức, đồng thời vòi trứng cũng bị ảnh hưởng. Tại thời điểm 7-20 ngày sau nhiễm, vi rút đã nhân lên đáng kể ở ống dẫn trứng, khiến cho các ống dẫn trứng bị viêm, quá trình hình thành vỏ trứng bị ảnh hưởng làm cho trướng đẻ ra có vỏ không bình thường. Khác với Adenovirus type I và II, vi rút EDS không nhân lên trong niêm mạc đường tiêu hóa.

3. Triệu chứng của bệnh giảm đẻ
Thời gian ủ bệnh 7-9 ngày ngày, một số trường hợp gây bệnh thực nghiệm triệu chứng chỉ xuất hiện sau 17 ngày. Đầu tiên là hiện tượng trứng bị mất màu. Tiếp sau là trứng đẻ ra có vỏ mỏng, vỏ mềm hoặc không có vỏ cứng. Bề mặt những trứng có vỏ mỏng thường xù xì, nhám, có nhiều hạt lắng đọng trên bề mặt vỏ. Nếu loại bỏ những trứng bất thường, tỷ lệ ấp nở không bị ảnh hưởng. Khi gia cầm mắc bệnh ở giai đoạn cuối chu kỳ đẻ trứng, sự thay đổi lông cưỡng bức có thể khiến tỷ lệ đẻ không bị ảnh hưởng.
Sản lượng trứng có thể giảm nhanh hoặc giảm dần trong một vài tuần. Vì EDS thường kéo dài 4-10 tuần, sản lượng trứng giảm khoảng 40%, trung bình mất khoảng 10-16 trứng/con. Nếu bệnh xảy ra do kết quả của sự tái kích hoạt của vi rút, sản lượng trứng thường giảm khi tỷ lệ đẻ đạt 50% và khi tỷ lệ đẻ đạt cao nhất.
Một số đàn gia cầm do kháng thể thu được trước khi vi rút tiềm ẩn được kích hoạt, triệu chứng lâm sàng biểu hiện rất khác nhau, có thể sản lượng trứng không đạt hoặc thời kỳ đẻ trứng bị trì hoãn. Gia cầm vẫn khỏe mạnh, một số đàn có biểu hiện chậm chạp, kém ăn, tiêu chảy một thời gian ngắn.

4. Bệnh tích của bệnh giảm đẻ
*Bệnh tích đại thể: thường biểu hiện ở buồng trứng và ống dẫn trứng, các bệnh tích khác thường không rõ ràng. Điều này làm việc chẩn đoán lâm sàng gặp khó khăn.
Gây bệnh thực nghiệm cho gà bằng vi rút EDS, toàn bộ ống dẫn trứng bị phù thũng sau 9-14 ngày, đặc biệt ở miệng phễu ở phần đầu trên ống dẫn trứng và phần tử cung. Lách bị sưng to, tế bào trứng mềm nhũn, quan sát thấy nhiều giai đoạn phát triển của trứng có trong xoang bụng.
5. Chẩn đoán bệnh giảm đẻ
- Chẩn đoán lâm sàng: Dựa vào triệu chứng bệnh tích đặc trưng của bệnh.
- Chẩn đoán cận lâm sàng: lấy mẫu, gửi về trung tâm chẩn đoán xét nghiệm và kiểm nghiệm FiveLab cho kết quả nhanh, chính xác.
6. Phòng bệnh giảm đẻ
Chọn giống gà ở cơ sở an toàn dịch bệnh, gà con được chọn từ những đàn gà bố mẹ được tiêm phòng cẩn thận.
Cung cấp thức ăn đảm bảo chất lượng, nước uống hợp vệ sinh, tuân thủ mật độ, độ thông thoáng chuồng nuôi phù hợp theo từng tuần tuổi của gà.
Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, và phun thuốc sát trùng Five-Iodine, Five-BGF, Five-B.K.G, Five-Perkon 3S,… định kỳ 1 lần/tuần để tiêu diệt mầm bệnh trong và ngoài môi trường.
Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin cho gà theo quy trình của trại đặc biệt tiêm cho đàn gà đẻ lúc 14-16 tuần tuổi bằng vắc xin Five-ND.IB.EDS để phòng 3 bệnh Newcastle (ND), viêm phế quản truyền nhiễm (IB) và hội chứng giảm đẻ (EDS).
Bổ sung vitamin, khoáng, men tiêu hóa để tăng sức kháng bệnh, duy trì sức khỏe và khả năng sản xuất trứng cho gà bằng các sản phẩm: Five-Super Eggs, Five-Tetravit Eggs, Five-CalciDB.Oral, Five-Canxi.ADE , Five-ADE plus, Five-Caphos, Five-Orgamin, Five-Masol Forte, Beta-Glucan.C, Five-Aminovit super,…
7. Điều trị hội chứng giảm đẻ hiệu quả
- Là bệnh do vi rút gây ra, không có thuốc điều trị đặc hiệu.
- Tích cực giải độc gan thận và nâng cao sức đề kháng cho gà bằng một trong các sản phẩm: Five-Bogama, Five-Orgamin, Five-Giải độc gan, Five-Phosric, Beta-Glucan.C, Five-Masol, Five-Anti virus,…
Xem thêm:
Hội chứng giảm đẻ trên vịt: triệu chứng và cách phòng trị
Phòng và điều trị hội chứng hô hấp phức hợp trên gà
Tại sao đã dùng vắc xin mà gà vẫn mắc bệnh
Chia sẻ :
Ý KIẾN PHẢN HỒI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN